Định hướng phát triển thị trường tài chính Việt Nam giai đoạn 2021-2030
Thị trường tài chính Việt Nam về cơ bản đã được tạo thành từ tất cả các thành phần của thị trường và ngày càng thể hiện vai trò đặc biệt quan trọng trong việc huy động vốn tiết kiệm và các alen. Mặc dù vậy, thị trường tài chính Việt Nam được đánh giá là phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế, còn một số rủi ro, hạn chế cần sớm giải quyết. Phân tích những tồn tại, bài viết gợi ý một số chủ trương phát triển thị trường tài chính Việt Nam giai đoạn 2021-2030.

Đặt vấn đề

Sau hơn 30 năm đổi mới và phát triển, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội, trong đó có thị trường tài chính. TTTC Việt Nam về cơ bản đã được hình thành với đầy đủ các thành phần và ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong huy động và mọi thứ liên quan đến nguồn vốn. Đặc biệt, trong giai đoạn 2011-2020, TTTC Việt Nam đã phát triển vượt bậc cả về chất và lượng, đảm bảo tốt chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng, phục vụ đắc lực cho tái cơ cấu nền kinh tế. tài chính Tuy nhiên, TTTC được đánh giá là phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, còn nhiều rủi ro và hạn chế. Vì vậy, việc phát triển các định chế tài chính giai đoạn 2021-2030 cần tập trung hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách và các giải pháp thực hiện để thị trường này phát triển toàn diện, hiện đại, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn, bắt kịp xu hướng mới của các tổ chức tài chính quốc tế. , góp phần thực hiện tốt các tiến bộ chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Quy mô thị trường tài chính Việt Nam không ngừng gia tăng

Quy mô các TTTC không ngừng tăng lên, đáp ứng nhu cầu cung ứng vốn cho nền kinh tế, trong đó quy mô TTV tăng trưởng mạnh và dần thu hẹp khoảng cách với tttt, trở thành kênh dẫn vốn trong trung và dài hạn cho nền kinh tế, hỗ trợ tiếp cận các nguồn tài chính để các công ty (DN) ổn định và phát triển sản xuất. , đặc biệt là có thêm nguồn lực để mở rộng hoặc đầu tư vào công nghệ, giảm rủi ro phụ thuộc vào nguồn vốn vay ngắn hạn từ hệ thống ngân hàng thương mại (NHNN). TTTT ngày càng phát triển và đi vào ổn định, thanh khoản của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) được cải thiện, mặt bằng lãi suất giảm giúp giảm chi phí cho DN, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định vĩ mô. Tín dụng tăng trưởng hợp lý, thực hiện tốt vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế, đảm bảo kiềm chế lạm phát và chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vào lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên. Chất lượng tín dụng được cải thiện, công tác quản lý nợ xấu được đẩy mạnh trong giai đoạn 2011-2020 và đạt được kết quả tích cực, tỷ lệ nợ xấu giảm, hướng tới mục tiêu cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với quản lý nợ xấu trong năm 2016- Giai đoạn 2020. tài chính Việc tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém đạt được một số kết quả tích cực, lợi nhuận và hiệu quả điều hành cao hơn, không để xảy ra đổ vỡ. Thị trường chứng khoán được cơ cấu lại mạnh mẽ, số lượng công ty chứng khoán giảm nhưng tăng mạnh về quy mô và chất lượng, quá trình thoái vốn của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục diễn ra sôi nổi, thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) và trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) đã có những bước tiến đáng kể. phát triển. Kết quả tái cơ cấu thị trường bảo hiểm (TTBH) khả quan, một số mục tiêu đã hoàn thành vượt mức mục tiêu theo Quyết định 193/2012 / QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển TTBH giai đoạn 2011-2020 và Quyết định 242 / QĐ -TTg phê duyệt Đề án tái cơ cấu chứng khoán và bảo hiểm giai đoạn 2018-2020 định hướng đến năm 2025. Hệ thống tổ chức tài chính hoạt động ngày càng lành mạnh, an toàn, chuẩn mực hơn, mô hình quản trị doanh nghiệp, kiểm soát rủi ro được cải thiện và tiệm cận dần với thông lệ quốc tế, như việc áp dụng Basel II vào hệ thống ngân hàng. Đến tháng 11/2020, Ngân hàng Nhà nước công nhận 23/35 ngân hàng đạt tiêu chuẩn Basel II về vốn, tỷ lệ an toàn. Ngoài ra, khuôn khổ pháp lý cho các tổ chức tín dụng ngày càng hoàn thiện theo hướng: i) Tăng cường các biện pháp quản lý các tổ chức tín dụng yếu kém; vi phạm trên thị trường; (ii) Cải thiện các quy tắc về minh bạch, kỷ luật thị trường và giám sát; (iii) Gần gũi hơn với các thông lệ, nguyên tắc và cam kết quốc tế; Thúc đẩy sự phát triển tài chính nhanh hơn và mạnh mẽ hơn, giúp đảm bảo sự an toàn và lành mạnh của hệ thống tài chính.

Một số tồn tại, hạn chế

Quy mô của các tổ chức tài chính còn nhỏ so với các nước trong khu vực, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, hạn chế khả năng phát triển và hội nhập quốc tế. Vào cuối quý 3 năm 2020, tổng tài sản của các tổ chức tài chính Việt Nam tương đương 218,6% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của 5 nước ASEAN hàng đầu (320% GDP). Cơ cấu thị trường mất cân đối giữa TTV và TTTC chủ yếu dựa vào TTTT, ngân hàng với gánh nặng là nguồn cung cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế. Hệ thống tổ chức tín dụng chiếm khoảng 95% tổng tài sản của hệ thống tài chính giai đoạn 2011-2020. Cơ sở hạ tầng tttc của Việt Nam còn hạn chế và khoảng cách với thế giới. Vấn đề giám sát an toàn hệ thống còn nhiều bất cập như: Mô hình giám sát tài chính phân tán theo chuyên đề nhưng thiếu sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan trong mạng lưới an toàn tài chính; các phương pháp giám sát thiên về giám sát tuân thủ mà không quan tâm đúng mức đến giám sát dựa trên rủi ro; công tác giám sát kinh tế vĩ mô chưa được quan tâm đúng mức. Ngoài ra, trong mọi thị trường, vẫn có những rủi ro và hạn chế. Đối với thị trường ngân hàng: Quá trình xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng còn nhiều khó khăn chưa tháo gỡ được, chủ yếu liên quan đến xử lý bảo lãnh; Việc huy động vốn và triển khai Basel II trên toàn hệ thống còn khó khăn và chậm so với lộ trình đã đề ra; Việc tái cơ cấu một số ngân hàng yếu kém còn chậm; Sở hữu chéo trong các tổ chức tín dụng tuy đã được cải thiện nhưng chưa được xử lý triệt để ... TTV còn một số tồn tại sau: Cơ cấu thị phần mất cân đối lớn, tập trung chủ yếu vào các công ty chứng khoán lớn, có tiềm lực tài chính mạnh; Các sản phẩm trên TTV còn sớm, chưa đa dạng; Cơ sở nhà đầu tư (NĐT) còn hạn chế, nhất là các nhà đầu tư trong nước, thiếu các nhà đầu tư chuyên nghiệp; Thị trường trái phiếu tiếp tục phụ thuộc nhiều vào các ngân hàng thương mại, chưa hình thành hệ thống quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ phòng hộ, tín chấp…; Mặc dù thị trường chứng khoán được cải thiện về quy mô nhưng nguồn vốn đi vào khu vực kinh tế thực thông qua phát hành lần đầu ra công chúng (IPO) là không lớn. Thị trường tpdn tiềm ẩn nhiều rủi ro do thiếu minh bạch thông tin. Hơn nữa, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và mức độ luân chuyển vốn thuận lợi ra / vào thị trường chứng khoán còn hạn chế cũng ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn nước ngoài.

Định hướng phát triển toàn diện thị trường tài chính Việt Nam trong giai đoạn 2021-2030

Việc chỉ đạo phát triển toàn diện các định chế tài chính Việt Nam giai đoạn 2021-2030 cần bám sát chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, cùng với các chỉ đạo quan trọng, liên quan đến các yếu tố đặc thù của các định chế tài chính Việt Nam như: Hài hòa cơ cấu giữa TTV và TTTT. , tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại các tổ chức tín dụng. , phát triển và hoàn thiện các sở giao dịch chứng khoán, tham gia sâu hơn vào lĩnh vực bảo hiểm để cung cấp vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế ... Do đó, một số vấn đề cần lưu ý trong quá trình phát triển toàn diện của TtTC giai đoạn 2021- Năm 2030 bao gồm: Thứ nhất, việc phát triển TTTM ổn định, minh bạch và hiện đại, phù hợp với chủ trương và lộ trình tái cơ cấu TTTC: (i) Đa dạng hóa thành phần tham gia thị trường, thúc đẩy hình thành và phát triển hệ thống môi giới ngoại hối, thương nhân sơ cấp, khuyến khích phát triển các tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường. (ii) Đa dạng hóa các công cụ và phương thức giao dịch trong TTTT, đặc biệt là các công cụ phòng ngừa rủi ro thị trường. Sự phát triển này thúc đẩy việc sử dụng tỷ giá hối đoái và các công cụ phái sinh lãi suất để phân tán rủi ro và phòng ngừa rủi ro trên thị trường. (iii) Phát triển đồng bộ và tăng tính liên kết, giảm tình trạng phân khúc và thiếu thương mại hóa giữa các bộ phận thị trường. (iv) Thúc đẩy hoạt động thị trường tiền tệ và ngân hàng phù hợp với cơ chế thị trường. Thứ hai, phát triển TTV theo chiều sâu để tăng vốn trung và dài hạn, phục vụ phát triển kinh tế: (i) Xây dựng TTV phát triển ổn định và bền vững với cơ cấu hợp lý giữa thị trường cổ phiếu và trái phiếu, TPCP và TPDN; hỗ trợ tích cực quá trình tái cơ cấu công ty nhà nước, thúc đẩy kinh tế phát triển. Chú trọng phát triển thị trường tpdn trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế. Cố gắng đạt mục tiêu vốn hóa thị trường / GDP đạt 120% vào năm 2025, trái phiếu / GDP đạt 55% vào năm 2025 theo Quyết định số 242 / QĐ-TTg ngày 28 tháng 02 năm 2019. Đến năm 2025, nâng cao tỷ lệ chứng khoán Việt Nam. Trao đổi để trở thành một thị trường mới nổi. (ii) Đa dạng hóa cơ sở sản phẩm trên thị trường bằng cách tăng số lượng công ty niêm yết, triển khai các sản phẩm phái sinh từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư; Nâng cao chất lượng chứng khoán niêm yết. (iii) Tăng cường cơ sở nhà đầu tư với mục tiêu tăng số lượng nhà đầu tư và xây dựng các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp để thị trường phát triển ổn định và bền vững, cải thiện khả năng tiếp cận thị trường cho các nhà đầu tư nhỏ và nhà đầu tư nước ngoài. Phát triển hệ thống nhà đầu tư tổ chức làm cơ sở cho nhu cầu thị trường, coi đây là khâu then chốt trong chiến lược phát triển thị trường vốn đến năm 2030; hình thành hệ thống quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ đầu cơ và quỹ tín thác. Cùng với đó, tăng cường tham gia sâu hơn khu vực bảo hiểm TTTM, đặc biệt là TTV để cung ứng vốn trong trung và dài hạn. Phát triển bảo hiểm thất nghiệp an toàn, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu bảo hiểm đa dạng của các tổ chức, cá nhân, bảo đảm an sinh xã hội. Mục tiêu thu nhập phí bảo hiểm / GDP đến năm 2025 đạt 3,5% theo Quyết định số 242 / QĐ-TTg ngày 28 tháng 02 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, tăng cường vai trò của các tổ chức trung gian thị trường để đảm bảo hoạt động lành mạnh và tăng tính minh bạch của tttc. Thứ ba, phát triển các dịch vụ tài chính hiện đại (DVTC) theo xu hướng quốc tế về tài chính toàn diện và fintech: Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về TVP, ngân hàng, hướng tới tài trợ toàn diện vào năm 2030, đảm bảo người dân và doanh nghiệp được tiếp cận đầy đủ với chất lượng, tiện ích, dvtc ngân hàng. Phát triển “tín dụng xanh”, “ngân hàng xanh” để góp phần chuyển đổi nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh, góp phần tích cực vào phát triển bền vững. Thứ tư, tiếp tục cơ cấu lại sâu rộng các tổ chức tài chính, nhất là hệ thống các tổ chức tín dụng liên kết với trọng tâm là thao túng cơ bản, xử lý triệt để nợ xấu, tổ chức tín dụng yếu kém theo nguyên tắc phòng ngừa, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và duy trì sự ổn định, an ninh của hệ thống. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế chính sách về quản lý nợ xấu và cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém, nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế cho hoạt động thỏa thuận nợ, thúc đẩy phát triển thị trường mua bán nợ để nâng cao khả năng xử lý nợ khó đòi; đồng thời khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài tham gia quản lý các tổ chức tín dụng yếu kém. Phấn đấu giảm tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, tỷ lệ nợ xấu trong danh sách cân đối của các tổ chức tín dụng, các khoản nợ xấu đã bán cho công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) và các khoản nợ đã áp dụng biện pháp phân loại nợ dưới 3 % theo Quyết định số 986 / QĐ-TTg ngày 08 tháng 8 năm 2018. Đồng thời, đẩy mạnh cơ cấu lại toàn diện các tổ chức tài chính nhà nước. Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng của các tổ chức tài chính nhà nước để đảm bảo các tổ chức này hoạt động đúng mục tiêu, hạn chế rủi ro trong thời gian tới. Năm là, tăng cường công tác thanh tra, giám sát và bảo đảm an ninh hệ thống tài chính: Tăng cường và nâng cao năng lực giám sát dựa trên rủi ro theo hướng hình thành hệ thống giám sát dựa trên rủi ro, cảnh báo sớm rủi ro, cơ chế quản lý khủng hoảng trong hệ thống và quản lý các tổ chức tài chính rủi ro cao để bảo vệ an ninh của hệ thống tài chính. Nâng cao hiệu quả giám sát với 3 nội dung quan trọng: Giám sát rủi ro hệ thống, tăng cường phối hợp giữa cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan giám sát; phối hợp, đồng bộ giữa giám sát bảo mật vĩ mô và giám sát phòng ngừa vi mô. Bên cạnh đó, từng bước thiết lập kỷ cương thị trường, áp dụng các quy định pháp luật, nâng cao chế tài xử lý vi phạm đối với các tổ chức tài chính. Sáu là, phát triển cơ sở hạ tầng tài chính đồng bộ, hiện đại theo hướng phát triển chung của thế giới: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật, hướng tới chuẩn mực quốc tế, phù hợp với trình độ phát triển của Trung tâm tài chính Việt Nam, như: Áp dụng các tiêu chuẩn Kế toán quốc tế; các nguyên tắc quản lý điều hành ... tài chính Ngoài ra, nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu mới của Cách mạng công nghiệp 4.0 như dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ blockchain ... vào quá trình quản lý, thu thập, phân tích, xác định và dự báo kịp thời các vấn đề liên quan đến quy định tài chính. Đồng thời, đa dạng hóa các kênh cung cấp thông tin để phát triển các sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao hơn nhưng giá thành rẻ hơn. Ngoài ra, nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, tạo điều kiện phát triển tttt. Phát triển hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng kết nối, tăng cường kết nối và liên kết giữa các thị trường bộ phận quốc gia và từng bước mở rộng phạm vi toàn cầu.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *